Đặc điểm IgE đặc hiệu trên bệnh nhân mày đay mạn tính tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh
Mã bài báo : SKPT_26_064_V
Ngày xuất bản : 30/10/2026
Số trang : 1-10
Tác giả : Ngô Hoàng Anh
Lượt xem : ( 77 )
Danh sách tác giả (*)
Ngô Hoàng Anh 1 - Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh
Ngô Duy Đăng Khoa 2 - Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh
Đặng Minh Nhật Quân 3 - Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
Nguyễn Thị Phan Thúy 4 - Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh
Ngô Duy Đăng Khoa 5 - Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh
Sang Lida - Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm dương tính IgE đặc hiệu với 52 dị nguyên và phân tích mối liên quan giữa tình trạng dương tính IgE đặc hiệu với một số đặc điểm nhân khẩu học của bệnh nhân mày đay mạn tính đến khám tại Bệnh viện Da Liễu Thành phố Hồ Chí Minh.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu trên 1.443 bệnh nhân mày đay mạn tính đến khám tại Bệnh viện Da Liễu thành phố Hồ Chí Minh (01/01/2024–31/12/2024).Bệnh nhân được chẩn đoán mày đay mạn tính và làm xét nghiệm IgE đặc hiệu với 52 dị nguyên. Dữ liệu thu thập từ hệ thống thông tin bệnh viện (HIS) và hồ sơ xét nghiệm. IgE đặc hiệu được định lượng bằng kỹ thuật miễn dịch đa thông số (EUROIMMUN AG) và phân loại theo hệ thống E.A.S.T. Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 22.
Kết quả: Có 64,66% bệnh nhân dương tính với ít nhất một sIgE, trong đó khoảng 43% có mức độ dương tính từ trung bình trở lên (≥3). Các dị nguyên thường gặp nhất là Der. farinae (28,41%), kiến lửa (25,57%), Der. pteronyssinus (22,38%) và gián (21,76%). Nhóm dị nguyên mạt bụi nhà và côn trùng có tỷ lệ dương tính cao nhất. Nam giới, nhóm trẻ và người sống ngoài thành phố Hồ Chí Minh có tỷ lệ và số lượng dị nguyên dương tính cao hơn có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Kết luận: Tỷ lệ dương tính với IgE đặc hiệu ở bệnh nhân mày đay mạn tính khá cao, trong đó nhóm dị nguyên mạt bụi nhà và côn trùng chiếm ưu thế. Nam giới, nhóm tuổi trẻ và bệnh nhân sống ngoài Thành phố Hồ Chí Minh có tỷ lệ dương tính với IgE đặc hiệu cao hơn.
DOI : https://doi.org/10.38148/JHDS.105V/SKPT_26_064_V